Gia đình
Gợi ý mục vụ năm 2019 – Bài 7: Cách Thức Phân ĐịnH
  • 03/07/2019
  • Quản trị

Gợi ý mục vụ năm 2019 – Bài 7: Cách Thức Phân Định Đức Thánh Cha Phanxicô nói «các Mục tử không thể cảm thấy hài lòng chỉ bằng cách áp dụng các luật luân lý cho những người sống trong những hoàn cảnh “bất qui tắc” » (AL 305).  Do hoàn...

Đọc tiếp...
BÀI 6: BƯỚC ĐI TRONG ÁNH SÁNG CHÂN LÝ : SỰ PHÂN ĐỊNH
  • 01/06/2019
  • Quản trị

BƯỚC ĐI TRONG ÁNH SÁNG CHÂN LÝ : SỰ PHÂN ĐỊNH   Đối với các gia đình trong hoàn cảnh khó khăn, Hội thánh ý thức mình phải kiên nhẫn và trong yêu thương đồng hành, dưới ánh sáng Lời Chúa giúp họ phân định để nhận ra sự thật tình trạng hiện tại còn xa với sự thật của tình yêu như Thiên Chúa muốn. Hội thánh ý thức luật tiệm tiến là tiêu chuẩn căn bản của sự phân định và sẽ không thực hành được nếu không có sự đồng hành. Vậy, phân định là gì?   1. Phân định không phải là … Phân định không phải là phán xét về tình trạng ân sủng của của một người. Vì, xét cho cùng, chỉ Thiên Chúa, mới có thể phán xét nội tâm của con người. Đức Thánh cha Phanxicô đã có lần nói: “Tôi là ai mà dám phán xét người ta?”  Hội thánh luôn giới hạn mình lại trong khả năng phán định hạnh kiểm bên ngoài hay tình trạng khách quan cuộc sống của một người mà thôi.[1] Khi Hội thánh không chấp nhận những người li dị tái hôn (về mặt dân sự) được rước lễ – trừ trường hợp họ không tỏ những dấu hiệu sám hối khách quan (sống tiết dục) – không có nghĩa là Hội thánh phán xét họ sống trong tình trạng tội nguy tử. Nhưng vì đó là một phán định dựa trên hoàn cảnh sống bên ngoài của họ vốn mâu thuẫn một cách khách quan với mầu nhiệm hiệp thông trong tình yêu trung thành giữa Chúa Kitô và Hội thánh Người trong Bí tích Thánh Thể.   Ở đây, có hai điểm chắc chắn mà chúng ta phải lưu ý trong khi làm mục vụ: 1) Ta không thể lượng định, nhận biết hay phán xét được sự tự do của một người dấn thân trong hoàn cảnh tội lỗi khách quan tới mức độ nào. Và 2) Vấn đề xét ở đây một người có được xưng tội, rước lễ hay không (như là việc công khai), không bởi tình trạng ân sủng cá nhân hoặc bởi nhận thức chủ quan của người ấy, nhưng là bởi điều kiện khách quan công khai bên ngoài.   2. Hoàn cảnh sống công khai của một người là điều quan trọng Tại sao tính công khai của hoàn cảnh sống của một người lại quan trọng đến thế? Một điều kiện cần thiết để một người có thể được rước lễ là: trong lương tâm người ấy có thể nói: “tôi không thấy mình có tội trọng gì”. Thế nhưng điều kiện này không đủ. Tuyên bố về việc cho một người li dị tái hôn được phép Rước lễ của Hội đồng Tòa thánh về Giải thích các Bản văn Luật đã được Tông huấn Amoris laetitia trích dẫn lại (x. AL 302, chú thích 345) xác định rằng «Đón nhận Mình Thánh Chúa trong tình trạng bất xứng công khai là một việc gây tổn hại khách quan cho sự hiệp thông Giáo hội; đó là một hành vi xâm phạm các quyền lợi của Giáo hội và của tất cả các tín hữu đang sống phù hợp với những đòi hỏi của sự hiệp thông ấy»[2]. Tính chất công khai của sự kiện về tình trạng sống của một người tín hữu tạo nên một hoàn cảnh mới liên hệ không những đến lương tâm cá nhân người ấy, mà còn tới toàn thể cộng đoàn Hội thánh.   Hôn nhân cốt yếu là một thực tại công khai. Thật vậy, «sự ưng thuận làm nên hôn nhân không thuần túy là một quyết định riêng tư, bởi lẽ nó tạo nên nơi mỗi người và nơi cả cặp vợ chồng một hoàn cảnh mới thuộc Giáo hội và xã hội»[3]. Nếu như hôn nhân là một chuyện riêng tư, thì bấy giờ phán quyết riêng tư về sự hôn nhân bất thành của đương sự cũng đủ để người ấy có thể đi đến kết hôn với một người khác. Tuy nhiên, khi vợ chồng kết hợp với nhau trong hôn nhân, đó là họ đã làm một cái gì vượt quá chính bản thân họ. Họ đã bước vào thực tại xã hội và Giáo hội. Bởi thế, «phán quyết của lương tâm về tình trạng hôn nhân của mình không chỉ liên hệ đến một tương quan trực tiếp giữa con người với Thiên Chúa, bỏ qua trung gian của Giáo hội, mà còn liên hệ đến cả Giáo luật ràng buộc lương tâm» (Ibid.). Hôn nhân là thực tại thuộc Giáo hội, bỏ qua điều đó là chối bỏ tính bí tích của hôn nhân. Bởi thế, vấn đề hôn nhân không thành sự đòi buộc phải có một sự phân định «bằng con đường của tòa ngoài của Giáo hội» (Ibid., 9).    Đức Thánh cha Phanxicô lưu ý «có mối liên kết sâu xa giữa đời sống hôn nhân và Thánh Thể» (AL 318). Chính vì hôn nhân không chỉ là một sự kiện riêng tư giữa tôi, bạn đời của tôi và Chúa Giêsu, nên việc hiệp thông Thánh Thể cũng không chỉ là vấn đề riêng tư. Đức Thánh cha nhấn mạnh «ta cần biết phân định Thân Mình của Chúa, nhận ra Thân Mình ấy bằng đức tin và đức ái trong các dấu chỉ bí tích cũng như trong cộng đoàn» (AL 186). Đó là nhận biết Thân Mình ấy hiện diện trong dấu chỉ bí tích, đồng thời hiện diện trong Thân Mình Người là Giáo hội. «Thánh Thể đòi hỏi chúng ta phải hội nhập vào thân thể Hội thánh duy nhất» (AL 186). Giáo hội là bí tích phổ quát của ơn cứu độ (Lumen gentium 48), là «dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp thân mật với Chúa và sự hợp nhất toàn thể nhân loại» (LG 1). Chúng ta được cứu độ trong chừng mực chúng ta là thành phần của thân thể Người, là Hội thánh. Do đó, như đức Thánh cha nhấn mạnh, sự phân định phải mang chiều kích Giáo hội. Như lời Đức Giáo hoàng Benêđictô XVI nói, «Đừng quên rằng “cái thần bí” của Bí tích có đặc tính xã hội» (Deus Caritas est 14; AL 186). Thế nên, sự hiệp thông Thánh Thể thể hiện qua hành động rước lễ của người tín hữu biểu lộ sự hiệp nhất   Câu hỏi gợi ý suy tư và thảo luận 1/ Theo anh /chị  một người li dị tái hôn xác tín trong lương tâm cuộc hôn nhân trước đó của họ không thành sự, cần điều kiện gì để có thể công khai lãnh nhận các bí tích?   2/ Bí tích Hôn phối và Bí tích Thánh Thể có liên hệ chặt chẽ với nhau như thế nào? Tính chất “riêng tư” và “công khai” có khác gì với “tính thần bí” và “tính xã hội” trong các Bí tích của Hội thánh Chúa Kitô? Từ đó để chúng ta hiểu tại sao một người li dị tái hôn không thể xưng tội và rước lễ   3/ Trong đồng hành với những tín hữu li thân, li dị tái hôn, Hội thánh cần giúp họ như thế nào để nhận thức yêu sách về sự thật (dây hôn phối bất khả phân li) và bác ái (trách nhiệm hiện tại với những người liên hệ) theo Tin mừng?   4/ Đâu là những cản trở khó vượt qua nhất trong tiến trình hoán cải của người tín hữu đang sống trong tình trạng “trái qui tắc” để dần hướng họ tới hội nhập trọn vẹn vào Hội thánh qua thực hành các bí tích (Hòa giải, và Thánh Thể)?  

Đọc tiếp...
 Bài 5: Các bước của lộ trình đồng hành CÁC BƯỚC CỦA LỘ TRÌNH ĐỒNG HÀNH
  • 03/05/2019
  • Quản trị

 Bài 5: Các bước của lộ trình đồng hành   CÁC BƯỚC CỦA LỘ TRÌNH ĐỒNG HÀNH   Khởi đầu Hội thánh đồng hành đến với con cái mình nhằm thiết lập một mối quan hệ bền vững ngày càng tiến triển. Hội thánh ý thức cần có thời gian và kiên nhẫn giúp...

Đọc tiếp...
Gợi ý mục vụ năm 2019 – Bài 4: ĐỒNG HÀNH VỚI CÁC GIA ĐÌNH GẶP HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN
  • 21/03/2019
  • Quản trị

Gợi ý mục vụ năm 2019 – Bài 4: ĐỒNG HÀNH VỚI CÁC GIA ĐÌNH GẶP HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN Những người gặp nạn bị thương cần được tiếp cận cứu giúp như trong dụ ngôn Người Samaritanô nhân hậu. Những gia đình gặp khó khăn trong tình trạng chông chênh cần được đồng...

Đọc tiếp...
Gợi ý mục vụ năm 2019 – Bài 3: QUI LUẬT ĐỒNG HÀNH: TIỆM TIẾN THEO THỜI GIAN
  • 18/02/2019
  • Quản trị

Gợi ý mục vụ năm 2019  Bài 3: QUI LUẬT ĐỒNG HÀNH: TIỆM TIẾN THEO THỜI GIAN Trong khi đi đường người ta cần có luật, trong khi hành hương lề luật là chân lí vì thế tuyệt đối cần thiết. Như thế luật không phải là giới hạn mà là kim chỉ nam hướng dẫn để người ta đi đường không bị lạc. Lề luật bởi thế là một trợ giúp cho tự do của con người trong khi tìm kiếm ý nghĩa và hướng đi cho cuộc sống, hướng đến cùng đích là Thiên Chúa. Lề luật có vai trò như nguyên tắc cho mọi sự phân định cần thiết để cất bước hành trình. Hội thánh khi đồng hành với con người ý thức rằng con người cần phải biết Lề luật của Chúa nói chung, nhưng điều đó không đủ, còn cần phải có một sự “đồng điệu” giữa con người và sự thiện hảo đích thực[1]. Hiểu như thế để tránh không rơi vào thái độ duy luật bóp chết mọi sáng kiến riêng tư trong khi tăng trưởng. Trong khi liên hệ tới luật luân lí, có một luật đặc biệt quan trọng cho việc đồng hành, đó là “luật tiệm tiến”, vốn liên hệ tới khoa sư phạm nhằm giúp con người nhận thức luân lí từng bước và nội tâm hóa lề luật. Luật luân lí ấy không ngừng được khơi dẫn dọc dài cuộc đồng hành. Ý nghĩa của nó trong đồng hành là nền tảng cho cuộc lữ hành theo chân Chúa Kitô.   Luật tiệm tiến trong Đồng hành Ta không được đồng nhất “luật tiệm tiến” với “sự tiệm tiến của luật” vốn được hiểu là có “những mức độ khác nhau và hình thức khác nhau của giới luật Chúa cho những người và hoàn cảnh khác nhau”[2]. Sự hiểu lầm ấy tai hại ở chỗ người ta thỏa hiệp qua việc thích ứng những đòi hỏi mệnh lệnh của giới luật với khả năng hạn hẹp chủ quan của con người. Kiểu như khi ta nói: giới luật này quá cứng rắn với bạn, nên tôi phải ban bố một giới luật khác cũng hiệu lực cho trường hợp của bạn. Làm thế có nghĩa là đã lấy khả năng con người làm thước đo của ân sủng, tức là rơi vào chủ nghĩa Pêlagiô. Giới luật Chúa thực ra không có trường hợp ngoại lệ. Vấn đề không phải là miễn chuẩn giữ một giới luật quá sức, bởi vì không giữ luật là con người đã bị kết án hại thân rồi; chính tội trọng làm tổn thương trước hết phẩm giá luân lí người phạm tội. Đức thánh cha Phanxicô xác nhận rằng «luật cũng là quà tặng của Thiên Chúa nhằm để chỉ đường, một quà tặng cho tất cả mọi người không trừ một ai để người ta có thể sống với sự trợ giúp của ân sủng»[3]. Lề luật không nên hiểu như một cái gì áp đặt từ bên ngoài, nhưng đúng hơn như là một hành trình nội tâm hướng đến sự thiện hảo. Như thế, nói rằng không có trường hợp ngoại lệ đối với giới luật luân lí duy nhất có giá trị cho mọi người cũng có nghĩa là không có ai bị đặt ở bên lề cuộc đồng hành. Và bất kì sự đồng hành hay phân định nào «sẽ không bao giờ được phép bỏ qua những yêu sách của sự thật và bác ái theo Tin mừng như Hội thánh đề nghị» (AL 300). Sống những đòi hỏi của sự thật và bác ái là hệ quả của một sự hoán cải và tin vào Tin mừng Chúa Giêsu Kitô. Giữa tình trạng tội lỗi và sống trong Đức Kitô, như là giữa tình trạng chết và sống mà ta phải chọn, không có những mức độ khác nhau. Người phụ nữ Samaria được yêu cầu không chỉ thay đổi đời sống (rời bỏ tình trạng hiện tại sống chung ngoài hôn nhân của chị: “người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị” (Ga 4,18)), nhưng trước hết là nhìn nhận Đức Kitô, nhờ Người chị thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí và sự thật (cf. Ga 4,23-24). Chính đó là đời sống thật của chị, một đời sống không chấp nhận có thang cấp nhiều mức độ. Một khi đã đạt được chân lí sự sống, người ta mới bước lên con đường thăng tiến mỗi ngày trong tư cách một kẻ đang sống. Nơi chị phụ nữ Samaria, điều này có nghĩa là hoán cải trở thành chứng tá của Thiên Chúa trước các đồng bào của chị. Trong cuộc sống dưới ánh sáng lề luật này, ta thấy tất cả ý nghĩa của việc đồng hành là giúp đỡ con người trong quá trình thăng tiến trong ân sủng. Có ân sủng ban đầu giúp sức, ta có thể đáp trả tình yêu thương. Ở đâu có khát khao, ở đó có một mạch nước phun trào ra sự sống muôn đời (cf. Ga 4,14). Tin vào quyền năng của ân sủng Nếu chấp nhận có sự “tiệm tiến của lề luật” thì đồng hành trở thành vô nghĩa, vì người ta không còn xem ân sủng như khởi đầu của đồng hành, không còn xem hoán cải là trọng tâm và nên thánh là cùng đích nữa. Không cần hoán cải, không nên thánh nhờ ân sủng, đồng hành không còn là việc mục vụ nữa mà chỉ là một sự bầu bạn nhân loại hay liên đới mơ hồ nào đó thôi vì thiếu mục đích. Cần phải nhấn mạnh đến cùng đích vì đó là đặc trưng của tất cả tinh thần mục vụ. Chúng ta không được hiểu hình ảnh ví von Giáo hội như một bệnh viện dã chiến theo nghĩa Giáo hội chỉ lo chữa lành những vết thương cấp thời hiện tại của con người mà thôi. Kiểu mục vụ như thế cuối cùng sẽ thất bại thôi vì chỉ lo hoàn tất viễn ảnh thần linh bằng những việc phàm nhân hữu hạn. Trái lại, chúng ta phải luôn luôn nhắm tới việc nên thánh, và đừng bao giờ cho rằng sự thánh thiện là lí tưởng quá cao vời mà những người như chị phụ nữ Samaria kia không thể với tới được. Cùng với các Đức thánh cha chúng ta vẫn rất tin tưởng vào sức mạnh của ân sủng: «Tuy nhiên, một người đã kết hôn có thể sống mức độ cao nhất của đức ái. Vì thế, người ấy có thể “đạt tới sự hoàn thiện phát xuất từ đức ái, nhờ trung thành sống tinh thần các lời khuyên Phúc Âm. Sự hoàn thiện như thế là điều có thể và mọi người nam nữ đều có thể đạt được”[4]» (AL 160). Câu hỏi gợi ý suy tư và thảo luận 1.     Anh chị hiểu lề luật Chúa để làm gì? Cách riêng, giới luật hôn nhân đơn nhất và bất khả phân li có ý nghĩa gì? 2.     Tại sao không thể chấp nhận sự “tiệm tiến của lề luật”? Đâu là ý nghĩa của khoa sư phạm của Thiên Chúa trong “luật tiệm tiến”? 3.     Tại sao không nhằm tới việc “nên thánh” là ta đã tự kết án mình? 4.     Anh chị có kinh nghiệm hay có biết một câu chuyện một người nào đã gặp gỡ Chúa và hoán cải trên đường nên thánh không?   Ủy ban Mục vụ Gia đình    

Đọc tiếp...
Bài 1: Chúa Giêsu dạy chúng ta đồng hành
  • 04/01/2019
  • Quản trị

Bài 1: Chúa Giêsu dạy chúng ta đồng hành   Các vị chủ chăn của chúng ta hướng dẫn: “Chúa Giêsu một đàng đưa ra lí tưởng rất cao cả về đời sống hôn nhân và gia đình; đàng khác, Người chạnh lòng thương những người đau khổ trong đời sống hôn...

Đọc tiếp...
Gợi ý mục vụ năm 2019: Đồng hành với các gia đình gặp khó khăn
  • 17/12/2018
  • Quản trị

Gợi ý mục vụ năm 2019: Đồng hành với các gia đình gặp khó khăn     Năm 2019, Hội Thánh tại Việt Nam - theo định hướng mục vụ Hội đồng Giám mục đã đề ra trong Thư Chung 2016 - giữa những mối quan tâm mục vụ sẽ quan tâm cách...

Đọc tiếp...
Suy tư mục vụ năm MVGĐ 12/2018: Hứa giữ lòng chung thủy suốt cuộc đời
  • 02/11/2018
  • Quản trị

Suy tư mục vụ năm MVGĐ 12/2018: Hứa giữ lòng chung thủy suốt cuộc đời   “Anh hứa giữ lòng chung thủy với em suốt cuộc đời” Trong bí tích hôn nhân, trái tim của hai con người yêu thương nhau hợp nhất, nhờ ơn Chúa, thành một thực thể duy nhất bất...

Đọc tiếp...
Suy tư mục vụ năm MVGĐ 11/2018: Sẵn sàng yêu thương đón nhận con cái
  • 26/10/2018
  • Quản trị

Suy tư mục vụ năm MVGĐ 11/2018: Sẵn sàng yêu thương đón nhận con cái Tình yêu phong nhiêu sẵn sàng đón nhận sự sống Yêu thương đích thực không khép kín vào bản thân, mà mở lòng ra trước Thiên Chúa và tha nhân. Tình yêu vợ chồng và sự phong...

Đọc tiếp...
Suy tư mục vụ năm MVGĐ 2018: Bài 10 “Để Yêu thương và tôn trọng Em…”
  • 27/09/2018
  • Quản trị

Suy tư mục vụ năm MVGĐ 2018: Bài 10 “Để Yêu thương và tôn trọng Em…”   Hôn nhân Kitô giáo đặt nền tảng trên sự ưng thuận của đôi bạn. Như Công Đồng Vatican II xác định: “Đấng Tạo Hóa đã thiết lập và ban những qui luật riêng cho cộng đồng của sự sống và tình yêu đầy thân mật giữa đôi vợ chồng. Cuộc sống chung đó được gầy dựng do giao ước hôn nhân, nghĩa là do sự ưng thuận không thể rút lại của từng cá nhân. Như thế, bởi một hành vi nhân linh, trong đó hai vợ chồng tự hiến cho nhau và đón nhận nhau, nhờ sự an bài của Thiên Chúa, phát sinh một định chế bền vững có giá trị ngay cả đối với xã hội” (GS 48).   Hôn nhân không phải là một thứ giao kèo hay hợp đồng, trong đó người ta xác định các quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên, theo kiểu mua bán. Bản chất của hôn nhân cũng như các quyền và nghĩa vụ căn bản của hôn nhân không thể do đôi hôn phối tự quyết định, nhưng do Thiên Chúa ban cho. Hôn nhân là một giao ước, lấy giao ước của Thiên Chúa với nhân loại làm mẫu mực, có đặc trưng là sự đón nhận nhau và tự hiến cho nhau. Điều đó được diễn tả rõ ràng trong lễ hôn phối khi đôi tân hôn nói với nhau: “Anh… nhận Em… khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi ốm đau cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày suốt đời anh”.   Tình yêu thì không kiểm soát, không áp chế hay lợi dụng Vợ chồng yêu thương nhau kính trọng và trân quí nhau, bởi thế tiên vàn không bao giờ muốn kiểm soát, áp chế hay lợi dụng người phối ngẫu. Người phối ngẫu không thể được xem như một thứ đồ vật nhưng như một chủ thể nhân vị. Khi yêu thương, trước hết và trên hết, ta không nhìn đến các phẩm chất, tài năng, hoặc ngoại hình người mình yêu, nhưng hướng đến hạnh phúc và hạnh phúc viên mãn cho người ấy. Điều đó giả thiết ta phải kính trọng người yêu cùng với lịch sử và phẩm giá của họ, và sẵn sàng xem những khác biệt nhau là yếu tố làm cho phong phú, và cùng nhau tiến bước trên con đường phát triển nhân bản và thiêng liêng.   «Như thế, bởi giao ước hôn nhân, người nam và người nữ “không còn là hai, nhưng là một xương một thịt” (Mt 19,6), họ phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau bằng sự kết hợp mật thiết trong con người và hành động, để cảm nghiệm và đạt đến sự hợp nhất với nhau ngày càng trọn vẹn hơn» (Gaudium et Spes 48). Muốn thế, đôi bạn nhất thiết phải vun trồng một tập quán văn hóa đối thoại, quan tâm đến nhau, tôn trọng nhau, sẵn sàng tha thứ chân thành và đứng bên nhau xuyên qua những đổi thay của hoàn cảnh cuộc sống. Chính trong bối cảnh cuộc sống sẻ chia và hợp lực như thế mà tính dục vợ chồng trở thành một ngôn ngữ của tình yêu.   Ngôn ngữ tình yêu này thực sự là hình thức thông giao mạnh mẽ nhất giữa người nam và người nữ. Nhưng nó chỉ chân thật ở trong viễn cảnh con người được đặt ở trung tâm, và tha nhân được xem như một con người được yêu thương chứ không như một thứ đồ vật đem lại cho ta sự thỏa mãn. Trong bầu khí văn hóa hiện nay, với đặc tính phơi bày đầy dãy sự khiêu dâm, tính dục bị mất phẩm giá nhân vị và sức mạnh của nó rất nhiều. Tính dục, vốn là một hình thức thông giao giữa người nam và người nữ, phần lớn đã bị nạn khiêu dâm khai thác biến thành một cách thức thỏa mãn đam mê dục vọng. Xã hội bị dung tục bởi sự lạm dụng tính dục và việc người ta dễ dàng tiếp cận những thông tin khiêu dâm trên mạng toàn cầu là nguyên nhân phá hại lâu dài các mối quan hệ liên vị. Nó hạ giá nhân vị và còn đưa vào trong quan hệ thân mật của vợ chồng những hình ảnh và ý tưởng tác hại.   “Đam mê dữ dội như Âm phủ” (Dc 8,6). Đam mê có tiềm năng hủy diệt rất lớn, vì xu hướng của nó là chiếm hữu con người. Đáng tiếc thay, nó lại biến tính dục, vốn là hình thức thông giao mạnh mẽ giữa hai người phối ngẫu, trở thành một lời lẽ giả dối trường kì. Như Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo Hội Công giáo cho thấy: Trong một xã hội ngày càng có khuynh hướng tương đối hóa và tầm thường hóa chính kinh nghiệm yêu thương và tính dục, đề cao những khía cạnh thoáng qua và làm lu mờ những giá trị căn bản của tình yêu, thì càng cấp thiết hơn bao giờ hết phải công bố và minh chứng rằngsự thật của tình yêu vợ chồng và tính dục chỉ hiện hữu ở nơi nào có sự dâng hiến trọn vẹn và đầy đủ con người với hai đặc điểm là duy nhất và trung tín. (HTXHCG 223).   Tính dục là ngôn ngữ của tình yêu nên con người phải được nhìn như một toàn thể. Thân xác thuộc yếu tính của nhân vị nên nó có một ngôn ngữ, một ngôn ngữ biểu lộ sự dịu dàng, ấm áp, gần gũi, an toàn, khát khao,… Không được tách biệt thân xác khỏi mối tương quan vợ chồng, vì nó thuộc về mối quan hệ này, nó làm phong phú và hoàn thành thực tại ‘một xương một thịt’. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nói rằng tính dục chỉ được thực hiện một cách thực sự nhân bản “nếu nó là một thành phần làm nên tình yêu, trong đó người nam và người nữ hiến thân trọn vẹn cho nhau cho đến chết. Sự trao hiến hoàn toàn về thể xác sẽ giả dối nếu nó không phải là dấu chỉ và kết quả của một sự trao hiến toàn thể con người, trong đó toàn thể con người hiện diện, bao gồm cả chiều kích trần thế của nó” (Familiaris Consortio 11). Tình yêu đam mê (eros) không thể tách biệt khỏi tình yêu hiến dâng (agape). Đức Bênêđictô XVI nói trong Thông điệp Deus Caritas Est rằng, trong hôn nhân, thân xác và linh hồn phải đi vào một kết hợp thâm sâu và người ta phải chấp nhận thách đố này ngang qua tình yêu đam mê. Tôn vinh thân xác mà lại làm hạ cấp tính dục thành như một thứ đồ dùng để mua bán hay cho nhận, thì sẽ biến con người thành hàng hóa và làm méo mó tình yêu (ss. 6-8).   Cần khẩn cấp khám phá lại phẩm giá thật của ngôn ngữ tình yêu trong những chiều kích khác của nó, và hiểu nó như là sự thông giao của tình yêu. Ngôn ngữ chân thật được biểu đạt cả qua hình thức bằng lời và cả không lời, cần thiết cả trong những khoảng lặng mà có sức sáng tạo. Đối với tính dục như là ngôn ngữ của tình yêu, khoảng lặng này được diễn tả qua thực hành tiết dục. Có những thời kì trong hôn nhân diễn tả bằng ngôn ngữ tính dục không phù hợp với thực tế của mối quan hệ vợ chồng.   Yêu thương, tôn trọng, yêu quí người bạn đời Tình yêu theo nghĩa chỉ như là tình ái thì không đủ, “nó cần được thanh luyện, cần phải qua một quá trình phân định, nghĩa là phải có tham dự của cả lí trí và ý chí. Lí trí, tình cảm và ước muốn phải kết hợp cùng nhau”[1]. Quyết định yêu thương, tôn trọng và yêu quí người bạn đời phải được lặp lại, được xác nhận, và làm mới lại mỗi ngày. Điều đó phải được làm mới lại cả khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi ốm đau cũng như lúc mạnh khỏe, và làm một cách hân hoan vui vẻ. Nhưng trong thực tế thỉnh thoảng tình yêu bị nhầm lẫn, bị đồng nhất với cảm giác yêu. Khi tình cảm ấy mà phai nhạt hay không còn, thì xuất hiện nguy cơ quan hệ chấm dứt vì đã đặt nền tảng chỉ trên tình cảm dễ tan biến. Vì thế quyết định dấn thân vào hôn nhân cần phải được lí trí hiểu biết và ý chí xác nhận.   Trước khi lãnh nhận bí tích Hôn phối, bởi đó người ta cần phải loại bỏ các khuynh hướng, thái độ xấu và tội lỗi có thể làm thiệt hại cuộc sống vợ chồng. Chỉ khi đó ân sủng mới phát huy và có thể cảm nhận được sự hiện diện của ơn thiêng. Điều đó chắc chắn đòi ta phải không ngừng hoán cải vốn cần được biểu lộ qua bí tích Hòa giải. Sám hối và xưng tội phải là một bước chuẩn bị hôn nhân, đó không là gì khác hơn một sự bắt đầu lại. Điều quan trọng là ta được giải phóng khỏi sự ích kỉ, chủ nghĩa cá nhân, cùng với mọi cản trở tội lỗi. Tội lỗi ở đây có nghĩa là cái làm xáo trộn trật tự nguyên thủy, một trật tự phải được vãn hồi nơi hôn nhân; hôn nhân là nẻo đường duy nhất (đối với những người sống chung) ở đó quyền năng của bí tích có thể phát huy hiệu quả. Nói chung, có lẽ người ta cần ‘xưng tội cả đời’ trước khi lãnh nhận bí tích. Đó là một cuộc nhìn lại toàn bộ đời sống mình trước mặt Chúa, xét mình trước sự hiện diện của linh mục, để mọi tội lỗi được phơi bày ra trước ý thức và được xưng thú, và nói ‘tôi không muốn’. Khi ấy ta mới được giải phóng và được tự do thực sự để nói lên lời ‘tôi muốn’ tuyệt vời đó.   Câu hỏi suy tư hay để thảo luận 1.      Tôi có nghĩ tình yêu thuần túy là hay chủ yếu chỉ là tình cảm hoặc cảm giác yêu không? 2.      Tôn trọng và yêu quí người phối ngẫu của bạn có nghĩa là gì? 3.      Tình dục có vai trò gì trong cuộc sống của bạn? 4.      Tôi có yêu thương người bạn đời của tôi chỉ vì người ấy hay không? 5.      Tiết dục trong hôn nhân có ý nghĩa gì? 6.      Tôi có ngay thẳng trước mặt Chúa, trước người bạn đời của tôi không?     + Gm Luy Nguyễn Anh Tuấn

Đọc tiếp...
Đang tải ...
LỜI CHÚA MỖI NGÀY
09/07/2019
SCĐ Chúa Nhật XV TN C Chủ đề : Luật trong lòng

SCĐ Chúa Nhật XV TN C Chủ đề : Luật trong lòng  

Đọc tiếp...
03/07/2019
26/06/2019
SCĐ Chúa Nhật XIII TN C Chủ đề : Chọn lựa dứt khoát

SCĐ Chúa Nhật XIII TN C Chủ đề : Chọn lựa dứt khoát   “Hãy theo Ta” (Lc 9,59) Sợi chỉ đỏ : – Bài...

Đọc tiếp...
18/06/2019
11/06/2019
04/06/2019
LỄ HIỆN XUỐNG Chủ đề : Chúa Thánh Thần là nguyên lý hợp nhất

LỄ HIỆN XUỐNG Chủ đề : Chúa Thánh Thần là nguyên lý hợp nhất

Đọc tiếp...
29/05/2019
SCĐ LỄ THĂNG THIÊN Chủ đề : Chuyển sang một giai đoạn mới

SCĐ LỄ THĂNG THIÊN Chủ đề : Chuyển sang một giai đoạn mới  

Đọc tiếp...
14/05/2019
SCĐ Chúa Nhật V Phục Sinh C Chủ đề : Giới luật yêu thương

SCĐ Chúa Nhật V Phục Sinh C Chủ đề : Giới luật yêu thương    “Thầy ban cho...

Đọc tiếp...
07/05/2019
SCĐ Chúa Nhật IV Phục Sinh C CHỦ ĐỀ : MỤC TỬ NHÂN LÀNH

SCĐ Chúa Nhật IV Phục Sinh C CHỦ ĐỀ : MỤC TỬ NHÂN LÀNH “Chiên của tôi thì nghe...

Đọc tiếp...
Thống kê truy cập
  • ĐANG ONLINE : 1
  • TỔNG LƯỢT TRUY CẬP: 48937